Lịch sử ngành đo đạc trắc địa
Đăng ngày 09:05, 26/10/2015

Trắc địa học là một ngành quan trọng cuộc sống hiện nay bởi nó gắn liền và trực tiếp tới đời sống cũng như việc xây dựng những công trình lớn và nhỏ. Những thiết bị được sử dụng trong ngành này khá đa dạng: máy đo đạc, máy toàn đạc, máy thuỷ bình…. Dưới đây là một số nét cơ bản nhất về các loại máy trên, còn được gọi chung là máy trắc địa.  Sự phát sinh và phát triển của trắc địa gắn liền với sự phát triển của khoa học và đời sống. Cách đây khoảng 3.000 năm trước Công nguyên, người Ai Cập thường phải “phân chia đất đai” giữa các bộ tộc sau các trận lũ của sông Nil. Thuật ngữ “trắc địa” tức “phân chia đất đai” được ra đời từ đấy. Sau Ai Cập, Cổ Hi Lạp có nền văn hoá phát triển mạnh. Khoảng 300 năm trước Công nguyên, nhà thiên văn học Eratosten đã cho rằng quả đất có dạng hình cầu, và đo được độ dài cung kinh tuyến. Thế kỷ thứ 13, Trung quốc đã tìm ra la bàn và ứng dụng la bàn vào việc thành lập bản đồ hàng hải bằng phương pháp sao hoả tâm. Thế kỷ thứ 16, nhà bản đồ học Mecartor đã tìm ra phép chiếu phương vị ngang đồng góc để vẽ bản đồ. Thế kỷ thứ 17, nhà bác học Vecnie đã phát minh ra du xích. Thế kỷ thứ 18, nhà bác học Lambert đo được độ dài kinh tuyến qua Pari và đặt ra đơn vị độ dài đo là mét. Thế kỷ 19, nhà toán học Gauss tìm ra phương pháp chiếu đồ mới.   Trải qua nhiều thời đại, cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật và nền sản xuất xã hội, khoa học trắc địa ngày càng phát triển. Những phát minh kính viễn vọng, logarit, tam giác lượng mặt cầu... đã tạo điều kiện vững chắc cho sự phát triển của khoa học trắc địa. Và là điều kiện ban đầu để phát triển các loại máy như máy kinh vĩ được sử dụng rất nhiều hiện nay.   Các loại máy trắc địa cao cấp được sử dụng trong nhiều trường hợp khác biệt sau.

may-do-dac

- Máy toàn đạc: dùng để đo góc, đo cao, đo xa. Máy toàn đạc có các độ chính xác khác nhau: 1", 2", 3", 5", 7". Các máy toàn đạc có độ chính xác 1", 2", 3" dùng trong đo lưới, đo giao hội... (nói chung là trong những phép đo cần độ chính xác rất cao). Còn với độ chính xác thấp hơn thì dùng trong các nhà cao tầng thông thường, các công trình nhỏ. Phân biệt đó không chỉ dựa trên độ chính xác mà còn dựa trên giá thành của các máy có độ chính xác: máy có độ chính xác 1", 2", 3" rất đắt dùng trong các công trình hay dự án lớn có tầm quan trọng cao, còn các máy có độ chính xác 5", 7" có giá thành rẻ hơn nên sử dụng trong các công trình nhỏ nhằm tránh lãng phí một cách không cần thiết. 
- Máy thủy bình: dùng để đo góc, đo cao. Chú ý mình cũng trả lời câu hỏi của cậu kia luôn đó là muốn dẫn cao độ thì chúng ta nhất thiết phải sử dụng thủy bình mới có độ chính xác cao nhưng đối với việc làm nhà cao tầng thì chúng ta không cần quá chú trọng đến dẫn cao độ lên các tầng trên, bởi vì trong phạm vi an toàn của nhà cao tầng cho phép sai lẹch đến hàng m. Trên cao gió rất lớn nên độ vẫy của nhà cao tầng sang hai bên có thể lên đến hàng m. Điều quan trọng ở nhà cao tầng đó là chúng ta phải dẫn cao độ chuẩn của nền móng phải rất chuẩn. Về lý thuyết thì mình cũng chỉ biết vậy còn ngoài công trường thì sẽ hiểu sâu hơn và sẽ có câu lý giải cặn kẽ hơn. 

Bên cạnh đó máy toàn đạc còn có các dòng máy có mode đo xa không gương rất chính xác, và thêm vào đó là rất tiện lợi cho người sử dụng khi chỉ có một mình và với những vị trí không có khả năng đặt mia hay gương như núi cao, trên đường dây điện....   

Với sự phát triển không ngừng của ngành xây dựng cả trong thực tiễn lẫn giáo dục, chắc chắn máy kinh vĩ, máy đo đạc điện tử, máy thuỷ bình, vân vân sẽ còn tiếp tục được sử dụng lâu dài và là công cụ hỗ trợ đắc lực cho những ai có nhu cầu.

Nguồn: http://dodactruongson.com/